PDA

View Full Version : All about Ancient World – Thông tin về thế giới cổ đại.



ga_cut_chan
24-01-2008, 02:20 PM
All about Ancient World – Thông tin về thế giới cổ đại.


http://science.nationalgeographic.com/staticfiles/NGS/Shared/StaticFiles/Science/Images/Content/stegosaurs-walking-sc5911-sw.jpg

Nguồn: National Geographic.Có tham khảo thêm sách sinh học lớp 12.


Lần này tớ sẽ dịch thử các bài viết bằng tiếng Anh về các kỉ của Trái Đất thời cổ đại. Các kỉ sẽ được dịch lần lượt theo tŕnh tự thời gian.


1.Cambrian Period
Kỉ Cambri

542 Million to 488 Million Years Ago
(bắt đầu từ 542 triệu năm trước đến 488 triệu năm trước).


The Cambrian period, part of the Paleozoic era, produced the most intense burst of evolution ever known. The Cambrian Explosion saw an incredible diversity of life emerge, including many major animal groups alive today. Among them were the chordates, to which vertebrates (animals with backbones) such as humans belong.
Kỉ Cambri, một phần của đại Trung sinh, sinh ra sự bùng nổ trong tiến hóa lớn nhất từng được biết đến. Sự bùng nổ ở kỉ Cambri đă chứng kiến một sự đa dạng ḱ diệu của sự sống, bao gồm nhiều động vật sống cỡ lớn ngày nay. Trong số đó là động vật có dây sống, sau này tiến hoá thành ngành động vật có xương sống gồm có cả con người.


What sparked this biological bonanza isn't clear. It may be that oxygen in the atmosphere, thanks to emissions from photosynthesizing cyanobacteria and algae, were at levels needed to fuel the growth of more complex body structures and ways of living. The environment also became more hospitable, with a warming climate and rising sea levels flooding low-lying landmasses to create shallow, marine habitats ideal for spawning new life-forms.
Nguyên nhân phát sinh sự hưng thịnh này vẫn chưa được làm sáng tỏ. Có thể là khí Oxi trong bầu khí quyển, nhờ vào quá tŕnh quang hợp của vi khuẩn và tảo, đạt được đến mức độ có thể cung cấp năng lượng cho sự phát triển của những cơ thể sống có cấu tạo và cách sống phức tạp. Mội trường cũng trở nên thích hợp hơn, với nhiệt độ nóng dần và mực nước biển dâng cao tràn qua nhưng khu vực đất cao ngang mực nước biển để tạo ra môi trường sống ở chỗ nước nông, lí tưởng cho việc phát sinh loài mới.

Nevertheless, the scale of the Cambrian Explosion is likely exaggerated due to the proliferation of hard-bodied animals that fossilized much more readily than their soft-bodied precursors. These included brachiopods, which lived in shells resembling those of clams or cockles, and animals with jointed, external skeletons known as arthropods, the ancestors of insects, spiders, and crustaceans. These toughened-up creatures represented a crucial innovation: hard bodies offering animals both a defense against enemies and a framework for supporting bigger body sizes.
Tuy nhiên, dường như sự tiến hoá trong kỉ Cambri được khuếch đại nhờ sự gia tăng của các động vật thân cứng bị hoá thạch dễ dàng hơn nhiều so với các tổ tiên thân mềm của chúng. Những loài này bao gồm động vật tay cuộn, sống trong vỏ ốc tương tự như vỏ ṣ ngày nay, và các động vật có bộ xương chia đốt ở bên ngoài được biết đến là động vật chân đốt, tổ tiên của côn trùng, nhện, và loài giáp xác. Những động vật cứng này đại diện cho sự đổi mới then chốt: Cơ thể cứng mang lại cho động vật khả năng pḥng thủ trước kẻ thù và một bộ khung hỗ trợ cho những cơ thể có kích cỡ lớn hơn.


The iconic arthropods of the Cambrian were the trilobites, which left a huge number of fossils. Trilobites had flattened, segmented, plated bodies that helped to protect them in seas that were increasingly filled with predators. With many varieties and sizes, they ranged from a millimeter to more than 2 feet (0.6 meters) in length. Trilobites proved among the most successful and enduring of all prehistoric animals. More than 17,000 species are known to have survived until the mega-extinction that ended the Permian period 251 million years ago.
Sinh vật đại diện cho động vật chân đốt là bọ ba thuỳ, loài mà để lại rất nhiều hoá thạch ngày nay. Bọ ba thuỳ có vỏ dẹt và được chia đốt giúp bảo vệ chúng ở những vùng biển mà ngày càng có nhiều động vật ăn thịt. Vói nhiều chủng loại và kích cỡ, chúng có thể dài từ 1mm đến hơn 2 feet. Bọ ba thuỳ là loài có thời gian sống lâu nhất và thành công nhất trong các sinh vật cổ đại. Hơn 17000 loài được biết là sống sót cho đến sự tuyệt diệt lớn kết thúc ở kỉ Pecmi 251 triệu năm trước.



A predator of the Cambrian was the giant, shrimplike Anomalocaris, which trapped its prey in fearsome mouthparts lined with hooks. Even stranger was the five-eyed Opabinia, which caught its victims using a flexible clawed arm attached to its head. These animals hunted along the seabed, where colonies of archaic sponges grew on organic, mineral structures formed by the activity of cyanobacteria. The sponges added to these reef habitats by building supporting skeletons from calcium carbonate, which they collected from the water.
Một động vật ăn thịt ở kỉ Cambri là loài động vật Anomalocaric (chắc là bọ cạp tôm) lớn, giống tôm, bắt con mồi bằng những phần miệng được ẩn đi và được xếp đầy những cái móc. Lạ hơn nữa là loài Opabinia, bắt mồi bằng một cánh tay có những vuốt phức tạp gắn lên đầu. Những loài này săn mồi ở đáy biển, nơi những mảng rong biển cổ đại phát triển trên những khoáng vật h́nh thành bởi hoạt động của vi khuẩn. Tảo biển được gắn vào những dải đá ngầm này nhờ cách tạo nên một bộ xương từ CaCO3 mà chúng thu được trong nước biển.


The earliest known primitive chordate is Pikaia gracilens, a wormlike creature that swam in middle Cambrian seas. Fossils found in the Burgess Shale of British Columbia show traces of a notochord (a rodlike primitive backbone), a significant step in the evolution of vertebrates.
Loài động vật có dây sống lâu đời nhất được biết đến là loài Pikaia Gracilens, một sinh vật giống giun bơi ở giữa biển kỉ Cambri. Hoá thách t́m thấy ở Burgess Shale của British Columbiam chỉ ra những dấu vết của Notochord (một loài cổ đại có xương sống giống day thừng), một bước tiến đáng kể trong quá tŕnh tiến hoá của động vật có xưong sống.


Evolutionary Update
Cambrian sediments found in Canada, Greenland, and China have yielded rarely fossilized soft-bodied creatures such as marine worms buried during undersea mud avalanches. Among the most surprising discoveries, announced in 1999, came from the 530-million-year-old Chengjiang fossil bed in China, where scientists found the remains of two different types of tiny, jawless fish. Representing the oldest known backboned animals with living relatives, the fossils showed that our vertebrate ancestors entered the evolutionary story some 50 million years earlier than previously thought.
Trầm tích của kỉ Cambri được t́m thấy ở Canada, Greenland và Trung Quốc đă cung cấp những hoá thạch hiếm có của động vật thân mềm như những loài sâu bị chôn vùi trong ḷng biển. Trong những khám phá kinh ngạc nhất, được thông báo năm 1999, đến từ tầng hoá thạch 530 triệu năm trước của Trung Quốc, nơi những nhà khoa học t́m thấy dấu tích c̣n lại của hai loài cá nhỏ không hàm. Đại diện cho những động vật có xứơng sống cổ nhât, các hoá thạch chỉ ra rằng tổ tiên có xươnng sống của chúng ta bước vào quá tŕnh tiến hoá sớm hơn những ǵ chúng ta nghĩ khoảng 50 triệu năm.


The end of the Cambrian saw a series of mass extinctions during which many shell-dwelling brachiopods and other animals went extinct. The trilobites also suffered heavy losses.

Sự kết thúc của kỉ Cambri đă chứng kiến một loạt sự tuyệt chủng của nhiều loài trong lúc những động vật tay cuộn sống trong vỏ cững và các loài khác bị tuyệt chủng. Loài Bị ba thuỳ cũng phải hứng chịu nhiều thiệt hại nặng nề.



Ḱ tới: Kỉ Sillua.

ga_cut_chan
26-01-2008, 03:31 PM
Silurian Period
(kỉ Silua)

443 Million to 416 Million Years Ago
(443 đến 416 triệu năm trước)

The Paleozoic era's Silurian period saw animals and plants finally emerge on land. But first there was a period of biological regrouping following the disastrous climax to the Ordovician.
Kỉ Silua thuộc đại trung sinh đă chứng kiến sự xuất hiện của cây và động vật trên mặt đất. Nhưng ban đầu có một khoảng thời gian tạo nhóm theo cơ chế sinh học mà đỉnh cao là giai đoạn Ordovician.


The recovery soon got under way in the oceans as climbing temperatures and rising sea levels reproduced the shallow, marine environments of earlier times. Huge reef systems flourished in the clear, tropical seas are evident today in the many limestone rock formations that date to this period. Previous reef-builders such as bryozoans were joined by corals and prehistoric sponges known as stromatoporoids, which formed a hard outer skeleton. They survived solely by eating microscopic animals trapped by their stinging tentacles.
Sự khôi phục sớm được tái tạo ở ḷng biển do nhiệt độ tăng cao và mực nước biển dâng cung cấp lại môi trường biển nông của những giai đoạn trước. Hệ đà ngầm lớn phát triển ở những vùng biển nhiệt đới rộng lớn vẫn được thấy sơ ngày nay trong những mấu đá vôi gắn với giai đoạn này. Những vật h́nh thành nên đá ngầm như rêu được tập hợp bởi san hô và bọt biển tiền sử được biết đến là chất nền, thứ đă tạo nên lớp xương cúng bên ngoài. Chúng sống sót đơn độc bằng cách ăn động vật nhỏ bắt bằng những xúc tu có độc của ḿnh.


The growth of corals and other marine organisms was stoked by oceans teeming with tiny planktonic creatures. Waiting at the other end of the food chain were the fearsome eurypterids, or sea scorpions. Some species grew to more than six feet (two meters) in length and are considered the largest arthropods ever to have lived. Bearing a resemblance to their scorpion descendents, eurypterids had a pair of huge, compound eyes for searching out primitive fish, which they grabbed with their powerful, clawlike pincers.
Sự phát triển của rêu và những tổ tập đoàn động vật biển khác được phát triển nhờ những sinh vật phù du nhỏ bé đông đúc. Ŕnh ở đầu bên kia của xúc tu là những con bọ cạp biển đáng sợ. Một số loài phát triển đến hơn 6 feet (2 mét) chiều dài và được coi là động vật chân đốt lớn nhất từng tồn tại. Mang đặc điểm tương tự như những hậu duệ bọ cạp của chúng, bị cạp biển có một đôi mắt lớn, phức tạp để t́m kiếm cá nguyên thuỷ, loài mà chúng bát được bằng sưc mạnh, có càng giống tôm.


Fish were now diversifying and extending their feeding options beyond simply vacuuming meals off the seabed. A group called acanthodians, or spiny sharks, evolved more menacing mouths with jaws. While these fish, the first true jawed fish, reached no great size during the Silurian, they were on their way to becoming one of the planet's top predators.
Giai đoạn này cá trở nên đa dạng và mở rộng vùng t́m kiếm thức ăn ra phạm vi đáy biển. Một nhóm cầu gai, hay cá mập gai, tiến hoá với bộ hàm ngày càng đáng sợ hơn với những chiếc răng hàm. Trong khi những loài cá này, những con cá đầu tiên có hàm thực sự, chưa đạt đến kích thước lớn nhất trong kỉ Silua, th́ chúng đă trên đường trở thành một trong những sát thủ hàng đầu của hành tinh.

Creepy-crawlies also began to appear on land. Starting off small, they measured no more than a few centimeters long. These terrestrial pioneers were arthropods, such as primitive centipedes and arachnids, the ancestors of spiders.
Những loài công trùng ḱ lạ cũng bắt đầu xuất hiện trên mặt đất. Khi mới sinh ra rất nhỏ, chúng chỉ không dài hơn một vài cm. Những sinh vật đầu tiên sống trên cạn này đều là động vật chân đốt, như rết và nhện nguyên thuỷ, tổ tiên của loài nhện ngày nay.

First True Plants
Những cái cây thực sự đầu tiên.
The first true plants began to take root on land some 430 million years ago. They evolved rigid stems, enabling them to stand upright, and the tubular tissues common to all vascular plants that allowed the transport of water and nutrients. These first colonizers lacked leaves, but mosses and other plants followed, providing a thin layer of waterside vegetation that encouraged more aquatic animals to make the transition to land.
Cái cây thực sự đầu tiên xuất hiện trên mặt đất khoảng 430 triêuj năm trước. Chúng có thân cứng, giúp chúng đứng thẳng, và những ống mềm giống như mạch của cây cho phép vận chuyển nước và chất dinh dưỡng. Những kẻ tiên phong này không có lá, nhưng rêu và các loài sau này, cung cấp một thảm thực vật mỏng ở ven bờ khuyến khích ngày càng nhiều động vật ở nước di chuyển lên bờ.

The climate remained warm and stable throughout most of the Silurian. The supercontinent of Gondwana was still positioned over the South Pole but the vast icecaps of the late Ordovician period melted almost to nothing. Sediments formed from massive quantities of broken shells suggest violent storms were triggered by the warmth of tropical oceans.
Khí hậu ấm và ổn định trong suốt kỉ Silua. Siêu lục địa Gondwana vẫn nằm trên cực Nam nhưng những chỏm băng lớn cuối gian đoạn Ordovician hầu như tan chảy hoàn toàn. Trầm tích h́nh thành từ số lượng lớn vỏ ốc vỡ chứng minh cho sự xuất hiện những con băo mạnh được tạo ra bởi nhiệt độ ấm áp của biển nhiệt đối.

The Silurian drew to a close with a series of extinction events linked to climate change; however, these were relatively minor compared with those of other geologic periods.
Kỉ Silua đi đến kết thúc với một chuỗi những sự tuyệt chủng liên quan đến sự thay đổi; tuy nhiên, những sự kiện này chỉ là phần nhỏ so với những giai đoạn h́nh thành địa chất khác.


Ḱ tới: Kỷ Devon.

ga_cut_chan
26-01-2008, 03:35 PM
Off topic này. Bài này th́ 100% Eng, ko có tí VNese nào hết. Nói về sự tuyệt chủng của khủng long, ko phải về các kỉ.



Dinosaur Extinction



What Killed the Dinosaurs?

Sixty-five million years ago the last of the non-avian dinosaurs went extinct. So too did the giant mosasaurs and plesiosaurs in the seas and the pterosaurs in the skies. Plankton, the base of the ocean food chain, took a hard hit. Many families of brachiopods and sea sponges disappeared. The remaining hard-shelled ammonites vanished. Shark diversity shriveled. Most vegetation withered. In all, more than half of the world's species were obliterated.

What caused this mass extinction that marks the end of the Cretaceous and the beginning of the Paleogene? Scientists have yet to find an answer. The one that does must explain why these animals died while most mammals, turtles, crocodiles, salamanders, and frogs survived. Birds escaped. So did snails, bivalves, sea stars (starfish), and sea urchins. Even hardy plants able to weather climate extremes fared OK.

Scientists tend to huddle around one of two hypotheses that may explain the Cretaceous extinction: an extraterrestrial impact, such as an asteroid or comet, or a massive bout of volcanism. Either scenario would have choked the skies with debris that starved the Earth of the sun's energy, throwing a wrench in photosynthesis and sending destruction up and down the food chain. Once the dust settled, greenhouse gases locked in the atmosphere would have caused the temperature to soar, a swift climate swing to topple much of the life that survived the prolonged darkness.

Asteroid or Volcanoes?

The extraterrestrial impact theory stems from the discovery that a layer of rock dated precisely to the extinction event is rich in the metal iridium. This layer is found all over the world, on land and in the oceans. Iridium is rare on Earth but it's found in meteorites at the same concentration as in this layer. This led scientists to postulate that the iridium was scattered worldwide when a comet or asteroid struck somewhere on Earth and then vaporized. A 110-mile-wide (180-kilometer-wide) crater carved out of Mexico's YucatĂ¡n Peninsula, called Chicxulub, has since been found and dated to 65 million years ago. Many scientists believe the fallout from the impact killed the dinosaurs.

But Earth's core is also rich in iridium, and the core is the source of magma that some scientists say spewed out in vast, floodlike flows that piled up more than 1.5 miles (2.4 kilometers) thick over 1 million square miles (2.6 million square kilometers) of India. This bout of volcanism has also been dated to about 65 million years ago and would have spread the iridium around the world, along with sunlight-blocking dust and soot and greenhouse gases.

Both hypotheses have merit. Some scientists think both may have contributed to the extinction, and others suggest the real cause was a more gradual shift in climate and changing sea levels. Regardless of what caused the extinction, it marked the end of Tyrannosaurus rex's reign of terror and opened the door for mammals to rapidly diversify and evolve into newly opened niches.